Khả năng sinh sản: Chìa khóa cho tổ ấm


Quá trình thụ thai tạo ra một cơ thể sống mới là một diễn biến sinh học phức tạp và được xem là một “phép màu”. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thụ thai thành công, xuất phát từ cả người đàn ông và người phụ nữ, bao gồm chất lượng trứng và tinh trùng, sức khỏe của phôi và tử cung. Vì vậy, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho cả hai phái là một bước chuẩn bị quan trọng cho việc thụ thai thành công.

Theo Tổ chức Y tế thế giới, một cặp vợ chồng được định nghĩa là “hiếm muộn” (hoặc vô sinh) khi họ không thể mang thai sau 12 tháng quan hệ thường xuyên mà không dùng bất cứ biện pháp tránh thai nào. Có nhiều yếu tố ngoại cảnh có thể làm giảm khả năng thụ thai, hoặc nghiêm trọng hơn là gây vô sinh cho các cặp vợ chồng như: tuổi tác, dinh dưỡng, cân nặng, các chất độc hại (rượu, bia, thuốc lá, chất gây nghiện, ô nhiễm), căng thẳng hoặc tiêu thụ quá nhiều caffeine.


Thụ thai – Sự sống bắt đầu như thế nào

“Phép màu” được bắt đầu khi tinh trùng từ người đàn ông có thể gặp và thụ tinh thành công với trứng của người phụ nữ để tạo ra một sinh linh mới. Sở dĩ được gọi là “phép màu” vì cơ hội thụ tinh thành công chỉ là một phần triệu.

Sau khi giao hợp, tinh dịch được đưa đến cổ tử cung và tinh trùng bắt đầu hành trình tìm đến trứng. Quá trình thụ tinh cần được hoàn thành nhanh chóng vì tinh trùng chỉ có thể tồn tại được trong vòng 48 tiếng. Vì vậy, khi vào được tử cung, hàng triệu tinh trùng phải di chuyển thật nhanh tới ống dẫn trứng để gặp trứng. Cho tới lúc này, số lượng tinh trùng chỉ còn khoảng 1000 con, chúng bơi quanh và cố gắng thâm nhập vào trứng nhưng chỉ có một tinh trùng tiếp cận thành công. Ngay khi kết hợp với trứng, một phản ứng hóa học sẽ xảy ra ở màng tế bào trứng để ngăn các tinh trùng khác xâm nhập, trứng thụ tinh được gọi là hợp tử.

Hợp tử phân chia thành nhiều tế bào trong quá trình di chuyển trong ống dẫn trứng. Sau 4 ngày, hợp tử có 100 tế bào, được gọi là phôi nang và nó sẽ làm tổ trong buồng tử cung. Sau chín tháng, thai nhi đã đủ trưởng thành và sẵn sàng bắt đầu một cuộc sống mới.

Những thách thức mà các cặp đôi có thể gặp trong khi thụ thai

Ở Úc, số liệu thống kê cho thấy cứ 6 cặp đôi sẽ có 1 cặp gặp vấn đề về khả năng sinh sản [1]. Những nguyên nhân gây khó thụ thai và vô sinh rất đa dạng, bắt nguồn có thể từ đàn ông, phụ nữ hoặc cả hai. Dưới đây là một số yếu tố có thể ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của hai phái:

Những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của phụ nữ

Ngày nay phụ nữ có khuynh hướng lập gia đình và có con muộn, trong khi khả năng sinh sản của phụ nữ bắt đầu suy giảm sau tuổi 30 [2], vì vậy, việc có con muộn có thể ảnh hưởng tới cơ hội thụ thai của phụ nữ.

Ngay từ khi chào đời, một phụ nữ đã có tất cả số trứng họ cần trong cả cuộc đời. Nhưng tuổi càng lớn trứng càng giảm đi cả về số lượng lẫn chất lượng [2]. Do vậy, tuổi tác là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của phụ nữ.

Những yếu tố khác có thể ảnh hưởng tới khả năng sinh sản nữ giới bao gồm các vấn đề về cơ quan sinh dục (như buồng trứng, ống dẫn trứng và tử cung), và việc mất cân bằng nội tiết hoặc miễn dịch.

Withania somnifera (Ashwagandha)

Là một thảo dược được dùng trong y học cổ truyền Ayurvedic với các đặc tính chống oxy hóa, chống stress, kích thích tình dục và cho các bệnh phụ khoa. Bổ sung Withania somnifera có thể có tác dụng tương tự như estrogen trong nửa tháng đầu tiên, khi mà nó tham gia vào quá trình trưởng thành của noãn bào và sự tăng trưởng nội mạc tử cung. Nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy sau một thời gian ngắn dùng thảo dược này, bệnh nhân đã có sự cải thiện về khả năng sinh sản và chỉ số thai kỳ [3, 4]. Các kết quả lâm sàng đã chứng minh thảo dược này làm giảm stress, mệt mỏi và cải thiện sự tỉnh táo [5], do đó có thể giúp thụ thai thành công.

Vitex agnus-castus (Chasteberry)

Là thảo dược cổ truyền có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, chứa nhiều hợp chất có tác dụng tương tự như progesterone. Vitex agnus-castus được dùng để giảm bớt triệu chứng tiền kinh nguyệt (PMS) (như chuột rút, đau và căng tức ngực). Nó cũng có thể hỗ trợ tăng trưởng nội mạc tử cung trong giai đoạn thụ thai và thời kỳ đầu mang thai. Trong một vài nghiên cứu lâm sàng, các công thức có chứa Vitex agnus-castus giúp cải thiện tỉ lệ mang thai và sinh con ở phụ nữ có vấn đề về chu kỳ kinh nguyệt liên quan tới progesterone [6-9] hoặc hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) [10].

Citrus bioflavonoids

Một hỗn hợp chiết xuất từ các loại quả họ cam quýt có đặc tính chống oxy hóa và chống viêm. Được thấy có trong các loại quả họ cam quýt, citrus bioflavonoids (như hesperidin) là các hợp chất hòa tan trong nước. Trong nghiên cứu tiền lâm sàng [11] ghi nhận đặc tính chống oxy hóa của hesperidin bảo vệ buồng trứng khỏi tổn thương oxy hóa. Ngoài ra, hesperidin làm tăng số lượng các nang trứng trưởng thành [11].

Các vitamin nhóm B: Pyridoxyne (vitamin B6), Axit folic (vitamin B9) & Cyanocobalamin (vitamin B12)

Vitamin nhóm B rất cần thiết đối với các quá trình chuyển hóa khác nhau trong cơ thể. Pyridoxyne cần để hình thành các tế bào hồng cầu và ảnh hưởng tới sự phát triển và quá trình xử lý của não, khả năng miễn dịch và hoạt động của hormone steroid [12].

Axit folic là chất tối quan trọng cho quá trình kiểm soát gene của trứng và phôi trong giai đoạn đầu. Hàm lượng axit folic cao giúp cải thiện khả năng mang thai và sinh đẻ ở những phụ nữ hiếm muộn [12].

Cyanocobalamin có tác dụng giúp cho hoạt động chức năng thần kinh, tâm lý và hình thành tế bào hồng cầu.

Axit ascorbic (Vitamin C)

Vitamin C có các đặc tính chống oxy hóa và các chức năng khác như tham gia vào quá trình chuyển hóa sắt và folate [13]. Lượng ascorbate trong dịch quanh nang noãn đang phát triển ở buồng trứng cao gấp 2 lần [14]. Bổ sung axit ascorbic (500mg) trong giai đoạn trước khi thụ thai giúp cải thiện tỉ lệ mang thai và tăng lượng ascorbate trong dịch nang [15]. Một thử nghiệm khác ở phụ nữ hiếm muộn cho thấy lượng progesterone và tỉ lệ mang thai tăng khi bổ sung axit ascorbic (750mg) [16].

Colecalciferol (Vitamin D)

Vitamin D cần thiết cho xương, cơ và sức khỏe chung. Nó giúp hấp thụ canxi trong cơ thể, cũng như tham gia vào các quá trình chuyển hóa khác. Nghiên cứu cho thấy thiếu vitamin D có thể gây ra vô sinh, khẳng định rằng nó có vai trò quan trọng đối với sức khỏe sinh sản [17]. Trong buồng trứng, vitamin D3 được hoạt hóa tham gia vào tổng hợp estrogen [17]. Thiếu hụt vitamin D dẫn tới tăng nguy cơ đái tháo đường thai kỳ [18] liên quan tới kháng insulin và giảm khả năng sinh sản [19].

Inositol

Là một loại đường quan trọng được dùng để sản xuất phosphatidyl inositol (PI) và myo-inositol, hai lipid quan trọng để hình thành các tín hiệu giúp điều chỉnh sự tương tác giữa tinh trùng và trứng, quá trình phân bào ban đầu trong phôi và làm tổ. Lượng myo-inositol trong ống dẫn trứng tương quan với chất lượng của noãn bào [20]. Bổ sung inositol có thể giúp cải thiện tình trạng thiếu noãn bào trưởng thành và mất cân bằng estrogen ở một số phụ nữ vô sinh [21-22].

Alpha-tocopherol (Vitamin E)

Vitamin E là một chất chống oxy hóa tan trong chất béo. Nó kết hợp với vitamin C (là nét đặc trưng để ngăn ngừa stress oxy hóa. Trong một nghiên cứu, bổ sung vitamin E giúp cải thiện sản xuất estrogen [23]. Trên lâm sàng, bổ sung vitamin E (400IU) giúp cải thiện độ dày nội mạc tử cung nhờ tác dụng chống oxy hóa của nó, giúp cho việc làm tổ diễn ra thuận lợi [24].

Các khoáng chất thiết yếu: Sắt, Selen, Kẽm, Iốt, Magiê

Mỗi khoáng chất thiết yếu đều rất quan trọng đối với giai đoạn trước khi thụ thai. Sắt quan trọng đối với quá trình sản xuất hemoglobin và sức khỏe tim mạch [25]. Thiếu sắt có thể dẫn tới các vấn đề về rụng trứng, làm quá trình thụ thai diễn ra khó hơn.

Selen quan trọng đối với sức khỏe miễn dịch và hoạt động chức năng của tuyến giáp. Nó cũng được dùng để sản xuất ra các chất chống oxy hóa quan trọng trong noãn bào và phôi thai ban đầu.

Kẽm cần để duy trì sức khỏe của tế bào. Trong một thử nghiệm lâm sàng, bổ sung kẽm cho phụ nữ thiếu kẽm giúp giảm các biến chứng khi mang thai [26].

Iốt cần để cơ thể sản xuất ra hormone tuyến giáp (chịu trách nhiệm điều chỉnh nhiều quá trình chuyển hóa, như sự tăng trưởng và tiêu hao năng lượng [27]). Thiếu iốt có thể làm suy giảm hoạt động của tuyến giáp và gây vô sinh [28-29].

Magie cần cho nhiều quá trình như ổn định DNA và RNA, sản sinh năng lượng, hoạt động của cơ và thần kinh. Trong một thử nghiệm lâm sàng, phụ nữ có vấn đề về sinh sản được bổ sung công thức chứa magie và nhận thấy cải thiện đáng kể lượng magie trong dịch nang [30].

Những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của nam giới

Vô sinh là một vấn đề phổ biến và trong khoảng 1/5 các cặp vô sinh thì vấn đề hoàn toàn là do nam giới [31]. Khoảng 2/3 số nam giới bị vô sinh có vấn đề về sản xuất tinh trùng, nguyên nhân gây vô sinh phổ biến nhất ở nam giới [31]. Các vấn đề về sản xuất tinh trùng là số lượng tinh trùng ít hoặc chất lượng tinh trùng kém (tinh trùng di động kém, bất động, hình dạng bất thường) [31]. Khoảng 30-80% các trường hợp vô sinh là do stress oxy hóa và tổng khả năng chống oxy hóa của tinh dịch suy giảm gây ảnh hưởng không tốt đến chất lượng và hoạt động của tinh trùng.

Tuổi tác là một yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của nam giới, chất lượng tinh trùng suy giảm sau tuổi 40 [2]. Nam giới tuổi càng cao thì cơ hội thụ thai càng giảm.

Tinh trùng là các tế bào sinh sản của nam giới được sản xuất hàng ngày bởi tinh hoàn. Tinh trùng khỏe mạnh và phát triển hoàn thiện có kích thước nhỏ (dài 0.05mm) và không nhìn được bằng mắt thường. Tinh trùng được cấu tạo bởi ba phần là đầu, cổ và đuôi. Phần đầu có chứa DNA của nam giới (yếu tố di truyền), được thiết kế để gắn kết và sau đó thâm nhập vào trứng. Đuôi có chứa mitochondria giúp cung cấp năng lượng cho tinh trùng di chuyển.

Tài liệu tham khảo

  1. http://www.health.gov.au/internet/publications/publishing.nsf/Content/womens-health-policy-toc~womens-health-policy-experiences~womens-health-policy-experiences-reproductive~womens-health-policy-experiences-reproductive-maternal~womens-health-policy-experiences-reproductive-maternal-fert Accessed on 13/2/17.
  2. https://www.betterhealth.vic.gov.au/health/conditionsandtreatments/age-and-fertility Access on 14/2/17.
  3. Riaz, A., et al., Assessment of acute toxicity and reproductive capability of a herbal combination. Pak J Pharm Sci, 2010. 23(3): p. 291-294.
  4. Sharma, S., S.A. Dahanukar, and S.M. Karandikar, Effects of long term administration of the roots of ashwagandha and shatavari in rats. 1985.
  5. Auddy, B., et al., A Standardized Withania Somnifera Extract Significantly Reduces Stress-Related Parameters in Chronically Stressed Humans: A Double-Blind, Randomized, Placebo-Controlled Study. Journal of the American Nutraceutical Association, 2008. 11(1): p. 50-56.
  6. Gerhard, I., et al., Mastodynon® bei weiblicher Sterilität. Forschende Komplementärmedizin/Research in Complementary Medicine, 1998. 5(6): p. 272-278.
  7. Bergmann, J., et al., [The efficacy of the complex medication Phyto-Hypophyson L in female, hormone-related sterility. A randomized, placebo-controlled clinical double-blind study]. Forsch Komplementarmed Klass Naturheilkd, 2000. 7(4): p. 190-9.
  8. Westphal, L.M., et al., A nutritional supplement for improving fertility in women. J Reprod Med, 2004. 49(4): p. 289-93.
  9. Westphal, L.M., M.L. Polan, and A.S. Trant, Double-blind, placebo-controlled study of Fertilityblend: a nutritional supplement for improving fertility in women. Clinical and experimental obstetrics & gynecology, 2005. 33(4): p. 205-208.
  10. 1Arentz, S., et al., Herbal medicine for the management of polycystic ovary syndrome (PCOS) and associated oligo/amenorrhoea and hyperandrogenism a review of the laboratory evidence for effects with corroborative clinical findings, in BMC Complement. Altern. Med. 2014.
  11. Khedr, N.F., Protective effect of mirtazapine and hesperidin on cyclophosphamide-induced oxidative damage and infertility in rat ovaries. Exp Biol Med (Maywood). 2015 Dec; 240(12): 1682–1689.
  12. https://www.betterhealth.vic.gov.au/health/healthyliving/vitamin-b Accessed on 15/2/17. Gaskins, J.A., et al., Dietary Folate and Reproductive Success Among Women Undergoing Assisted Reproduction. Obstetrics & Gynecology, 2014. 124(4): p. 801-809.
  13. http://www.who.int/elena/titles/vitaminsec-pregnancy/en/ Accessed on 15/2/17.
  14. Paszkowski, T. and R. Clarke, The Graafian Follicle Is a Site of L-Ascorbate Accumulation. Official Publication of ALPHA, Scientists in Reproductive Medicine, 1999. 16(1): p. 41-45.
  15. Crha, I., et al., Ascorbic acid and infertility treatment. Central European journal of public health, 2003. 11(2): p. 63-67.
  16. Henmi, H., et al., Effects of ascorbic acid supplementation on serum progesterone levels in patients with a luteal phase defect. Fertility and Sterility, 2003. 80(2): p. 459-461.
  17. Potashnik, G., et al., The relationship between endogenous oestradiol and vitamin D 3 metabolites in serum and follicular fluid during ovarian stimulation for in-vitro fertilization and embryo transfer. Human Reproduction, 1992. 7(10): p. 1357-1360. Dabrowski, F.A., Grzechocinska, B. and Wielogos, M. The Role of Vitamin D in Reproductive Health—A Trojan Horse or the Golden Fleece? Nutrients. 2015 Jun; 7(6): 4139–4153.
  18. Bodnar, L.M., et al., Maternal vitamin D deficiency increases the risk of preeclampsia. The Journal of clinical endocrinology and metabolism, 2007. 92(9): p. 3517.
  19. Anderson, K., V. Nisenblat, and R. Norman, Lifestyle factors in people seeking infertility treatment – A review, in Aust. N. Z. J. Obstet. Gynaecol. 2010. p. 8-20.
  20. Chiu, T.T.Y., et al., Follicular fluid and serum concentrations of myo-inositol in patients undergoing IVF: relationship with oocyte quality. Human Reproduction, 2002. 17(6): p. 1591-1596.
  21. Brusco, G.F. and M. Mariani, Inositol: effects on oocyte quality in patients undergoing ICSI. An open study.
  22. Papaleo, E., et al., Myo-inositol may improve oocyte quality in intracytoplasmic sperm injection cycles. A prospective, controlled, randomized trial. Fertility and Sterility, 2009. 91(5): p. 1750-1754.
  23. Cigliano, L., et al., Lecithin-cholesterol acyltransferase activity during maturation of human preovulatory follicles with different concentrations of ascorbate, -tocopherol and nitrotyrosine. Reproduction, Fertility and Development, 2002. 14(1-2): p. 15-21.
  24. Cicek, N., et al., Vitamin E effect on controlled ovarian stimulation of unexplained infertile women. Official Publication of ALPHA, Scientists in Reproductive Medicine, 2012. 29(4): p. 325-328.
  25. https://www.betterhealth.vic.gov.au/health/healthyliving/nutrition-womens-extra-needs Accessed on 15/2/17.
  26. Nossier, S.A., et al., The effect of zinc supplementation on pregnancy outcomes: a double-blind, randomised controlled trial, Egypt. Br J Nutr, 2015. 114(2): p. 274-85.
  27. https://www.betterhealth.vic.gov.au/health/healthyliving/iodine Accessed on 16/2/17.
  28. Nossier, S.A., et al., The effect of zinc supplementation on pregnancy outcomes: a double-blind, randomised controlled trial, Egypt. Br J Nutr, 2015. 114(2): p. 274-85.
  29. Prummel, M.F. and W.M. Wiersinga, Thyroid autoimmunity and miscarriage. Eur J Endocrinol, 2004. 150(6): p. 751-5.
  30. Ozkaya, M.O., et al., Effects of multivitamin/mineral supplementation on trace element levels in serum and follicular fluid of women undergoing in vitro fertilization (IVF). Biol Trace Elem Res, 2011. 139(1): p. 1-9.
  31. https://www.andrologyaustralia.org/wp-content/uploads/Male-Infertility-Guide-WEB.pdf Accessed 16/2/17. Ahmadi S, Bashiri R, Ghadiri-Anari A, Nadjarzadeh A. Antioxidant supplements and semen parameters: An evidence based review. Int J Reprod Biomed (Yazd). 2016 Dec;14(12):729-736.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *